PVM TAX
Trở lại mục Kiến thức

PVM TAX Knowledge Watch

Chiết khấu, hàng tặng và hàng mẫu: cùng cửa hàng chị Liên đối chiếu 7 tình huống

Bài 03 · Hộ kinh doanh · Tình huống thực tế

Chủ cửa hàng mỹ phẩm trao đổi về mẫu dùng thử và quà tặng với khách, trong khi người tư vấn đối chiếu thỏa thuận
Hình minh họa; không phải chứng từ thực tế.

Cửa hàng chị Liên chuẩn bị nhập mỹ phẩm, đẩy bán một dòng sản phẩm và chăm sóc khách quen. Cùng một tuần có giảm tiền, tặng hàng và phát mẫu. Nếu chỉ ghi chung “chiết khấu” trong bảng theo dõi, người phụ trách sẽ khó biết khoản nào phát sinh vì lượng mua, vì trả sớm hay vì chương trình bán hàng.

1. Nhập nhiều hàng, được giảm 5%

Nhà cung cấp thỏa thuận: nhập 100 sản phẩm trong một đơn, giá trước chiết khấu 100.000 đồng/sản phẩm, được giảm 5%. Giá trị 10.000.000 đồng giảm 500.000 đồng, còn 9.500.000 đồng.

Điều kiện là lượng mua; đây là dấu hiệu của chiết khấu thương mại theo đoạn 03 Chuẩn mực số 14. Chị Liên nên giữ thỏa thuận về ngưỡng mua, giá áp dụng và cách xác nhận khoản giảm. Định nghĩa này giúp hiểu thuật ngữ, không áp chế độ kế toán doanh nghiệp cho hộ kinh doanh.

Nếu nhà cung cấp tổ chức một đợt ưu đãi nhằm xúc tiến mua bán cho khách hàng, vẫn cần xét bản chất khuyến mại theo Điều 88 Luật Thương mại. Mua nhiều không tự tạo ngoại lệ khỏi quy định khuyến mại. Khoản hỗ trợ trưng bày hoặc thưởng khác chưa đủ dữ kiện không được tự đổi tên thành chiết khấu thương mại.

2. Tuần lễ giảm giá 20%

Chị Liên bán sản phẩm có giá ngay trước chương trình là 200.000 đồng, giảm 20% còn 160.000 đồng. Mục đích thu hút khách trong tuần lễ ưu đãi và cơ chế giảm giá bán phù hợp hình thức tại Điều 10 Nghị định 81.

Mức giảm 40.000 đồng bằng 20% × 200.000 đồng, nằm trong hạn mức giảm giá thông thường 50% của khoản 1 Điều 4 Thông tư 39. Hoạt động đúng hình thức Điều 10 được miễn thủ tục thông báo theo điểm a khoản 2 Điều 17 hiện hành; không phải vì ngân sách chương trình nhỏ.

Chị cần lưu giá ngay trước chương trình, danh sách sản phẩm và nội dung công bố. Không dùng giá 300.000 đồng chỉ vừa đặt lên để tính thành “giảm gần 47%”, trong khi giá ngay trước chương trình thực tế là 200.000 đồng. Việc đạt hạn mức không thay thế yêu cầu trung thực, công khai và các điều kiện khác.

3. Mua một sản phẩm, nhận một món quà

Trong một chương trình riêng, chị Liên dự kiến bán 100 sản phẩm, giá 200.000 đồng/sản phẩm; mỗi sản phẩm kèm một quà mua ngoài với giá thanh toán 30.000 đồng. Giả định giá trị quà được xác định theo khoản 3 Điều 3 Thông tư 39, không kèm ưu đãi khác.

Kiểm tra hạn mức trong ví dụ tặng kèm

Một đơn vị hàng được khuyến mại

Dữ liệu và phép tính
Quà 30.000 đồng; 50% × 200.000 = 100.000 đồng.
Kết quả trong giả định
30.000 < 100.000 đồng.

Toàn chương trình

Dữ liệu và phép tính
100 quà × 30.000 = 3.000.000 đồng; 100 sản phẩm × 200.000 = 20.000.000 đồng.
Kết quả trong giả định
3.000.000 < 50% × 20.000.000 = 10.000.000 đồng.

Đây là tặng kèm mua hàng theo khoản 1 Điều 9, không phải tặng không kèm mua hàng tại khoản 2. Đúng hình thức Điều 9 thì được miễn thủ tục thông báo theo Điều 17, nhưng hai hạn mức vẫn phải kiểm tra. Nếu đổi số lượng hoặc giá trị, cần tính lại; nếu vừa giảm giá vừa tặng, phải đối chiếu cơ chế kết hợp, không mặc định mỗi ưu đãi có một hạn mức 50% riêng để cộng dồn.

4. Gửi quà cảm ơn đối tác

Chị gửi một hộp quà 300.000 đồng nhân dịp kỷ niệm hợp tác, không đặt điều kiện mua hàng. Tình huống có thể mang bản chất tặng cho theo Điều 457 Bộ luật Dân sự. Cần làm rõ người nhận, mục đích và thỏa thuận, không chỉ ghi tên “quà tri ân”.

Nếu quà thực tế là lợi ích dành cho khách để xúc tiến bán hàng, phải xem xét khuyến mại. Tặng không kèm mua hàng vẫn có thể thuộc khoản 2 Điều 9. Chị nên lưu nội dung trao đổi và mục đích tặng; không dùng việc người nhận không mua hàng làm bằng chứng duy nhất để loại khuyến mại.

5. Phát 50 gói kem dùng thử

Chị phát 50 gói, mỗi gói 5 ml, để khách trải nghiệm dòng kem cửa hàng đang hoặc sẽ bán. Khách không trả tiền và không phải mua sản phẩm khác. Đây là tình huống hàng mẫu dùng thử theo Điều 8 Nghị định 81; hàng phải được kinh doanh hợp pháp, bảo đảm chất lượng và có thông tin sử dụng.

Đúng hình thức Điều 8 thì được miễn thông báo theo Điều 17, đồng thời thuộc ngoại lệ của cả hạn mức từng đơn vị và tổng chương trình tại khoản 1–2 Điều 3 Thông tư 39. Miễn hạn mức không cho phép dùng sản phẩm không đủ điều kiện. Nếu chuyển sang “mua một chai mới nhận gói”, cần xét lại hình thức tặng kèm, không giữ kết luận chỉ vì bao bì ghi “sample”.

6. Thanh toán trong 10 ngày, được hưởng 1%

Một hợp đồng khác cho chị Liên thời hạn trả tiền 30 ngày. Hai bên thống nhất trả trong 10 ngày được hưởng 1% trên 20.000.000 đồng, tức 200.000 đồng. Điều kiện chính là trả trước hạn, phù hợp định nghĩa chiết khấu thanh toán tại đoạn 03 Chuẩn mực số 14.

Cần đối chiếu mốc bắt đầu tính hạn, thời điểm thanh toán và căn cứ xác nhận. Trả sớm mà không có thỏa thuận không tự phát sinh quyền hưởng 1%. Nếu giao dịch đồng thời có chiết khấu mua nhiều, giữ riêng hai điều kiện; không suy từ ví dụ này ra cách tính thuế hoặc hạch toán.

7. Mua hàng rồi bốc thăm trúng quà

Chị dự định cho khách mua hàng tham gia bốc thăm một quà trị giá 3.000.000 đồng. Việc tham gia gắn với mua hàng, người thắng được chọn ngẫu nhiên: đây là dấu hiệu của khuyến mại may rủi tại Điều 13, phải đăng ký và được xác nhận trước khi thực hiện theo Điều 19.

Không được viện dẫn “giải thưởng dưới 100 triệu đồng” để bỏ đăng ký. Ngưỡng đó thuộc trường hợp miễn thông báo của cuộc thi theo Điều 12. Nếu đổi sang cuộc thi đánh giá theo tiêu chí đã công bố, cần xác định lại toàn bộ cơ chế, không chỉ đổi tên bốc thăm thành cuộc thi.

Checklist đối chiếu giao dịch và chương trình

Các mục lưu hồ sơ là gợi ý thực hành của PVM TAX, không phải một danh mục bắt buộc giống nhau cho mọi giao dịch. Quy định hóa đơn, thuế và hạch toán cần được xem xét riêng theo hồ sơ; ba bài này tập trung vào bản chất và pháp luật khuyến mại.

Kết thúc chuỗi, điều đáng nhớ là: xác định đúng điều kiện → đối chiếu đúng quy định → giữ dữ liệu để áp dụng. Không chắc một chương trình thuộc hình thức nào thì chưa vội kết luận chỉ từ tên gọi.

PVM TAX – Hiểu đúng · Làm đúng.

Căn cứ và nguồn chính thức

Đọc Nghị định 81 theo các sửa đổi đang áp dụng. Nghị định 239 đã bãi bỏ Điều 6–7 và khoản 5 Điều 10; hạn mức trong bài được đối chiếu theo Thông tư 39. Văn bản hợp nhất hỗ trợ đọc các sửa đổi, không có hiệu lực độc lập.

Ngày kiểm tra/cập nhật: 10/10/2026. Nội dung nhằm hỗ trợ tìm hiểu; trường hợp cụ thể cần đối chiếu hồ sơ và quy định áp dụng tại thời điểm thực hiện.

Xem các nội dung khác
Zalo Gọi ngay